Thơ NGUYỄN QUANG THIỀU  

Posted by Unknown

Nhà thơ NGUYỄN QUANG THIỀU

NHÀ THƠ
* Tặng Nguyễn Quyến
Ngồi cúi đầu trong chiếc ghế gỗ bạc sơn chàng im lặng như chết
Ánh tà dương dần dần biến mất trên những ô cửa
Chàng co người lại, thân thể chàng biến thành một cái tai
Chàng run rẩy trong đời sống của thính giác bí ẩn
Thế gian không có gì phân cách và mọi âm thanh
Chàng đều nghe thấy bằng cái tai rộng lớn của cô đơn
Cả tấm lưng nằm xuống, thiếp ngủ
Và tiếng dừng lại của hơi thở
Có quá nhiều kẻ quanh chàng mang theo trên đầu
Những cái tai điếc như đồ trang sức
Chàng từng mắc sai lầm khi gào to: Các ngươi hãy lắng nghe
Và sự thật đã nhạo báng chàng
Chẳng có gì an ủi nổi chàng kể cả cái chết
Nhưng chàng vẫn phải sống, đôi lúc phải rúm người lại
Trước thách thức của đám người giống những chiếc quần rách
Sứ mệnh của chàng không phải là kẻ đuổi ruồi
Chàng trở thành kẻ điên khùng của thế giới câm ngọng
Và luôn luôn mang gương mặt của đứa trẻ đau ốm
Nhưng đêm đêm đầu chàng lắc lư một quả chuông lớn
Tiếng nó làm rung những vòm cây và những ngọn đồi



HỒI TƯỞNG THÁNG TƯ
Rền vang những cánh đồng, buổi bình minh đất đai
Tôi thấy mùa loa kèn sinh ra dưới vòm trời bất diệt
Chúng ta đợi đã lâu một cái chết sống lại
Những nhạc công yếu già lần lượt bỏ đi.
Im lặng như chưa từng có gì sinh ra trên đất đai này
Rồi ngôi nhà dựng lên như chợt nhớ, rồi suốt đêm gió thổi
Những đồng tiền xưng tên trong lễ rửa tội
Đủ mua một phao dầu cháy hết đêm nay?
Tất cả những gì còn lại giờ nghiêm trang trong nghi lễ của mình
Tôi ôm chặt cây kèn đứng sau rèm sáng
Xa xăm trên cánh đồng, những nhạc công tóc bạc
Thèm được chơi lần cuối cùng bên miệng huyệt sâu.
Mọi con đường tháng Tư biến mất, chỉ còn lại một
Tôi đứng trên con đường này và quanh tôi bạt ngàn những cây kèn cô đơn
Tôi phải chơi thay những nhạc công đã chết
Và những cây kèn bị lãng quên trong bóng tối cánh đồng.
Những cái tên đều đều vang lên trên mặt đá hoa cương rồi đời đời im lặng
Tôi nhìn thấy hàng cây mới trồng trên bến bờ thế gian
Một ngôi sao bay về đậu lên trên trán
Ánh sáng chan hòa chảy trong máu, xương tôi.
Đêm rền vang tiếng thử hơi của những cây kèn
Tôi là nhạc công sót lại cuối cùng bước dần ra phía sáng
Trong nghi lễ của đất đai, của bầu trời, tôi nâng kèn, ngước mắt
Tất cả những cánh đồng hoa loa kèn bùng nổ - bình minh.
SAU BẬC CỬA NGÔI NHÀ VÔ HÌNH
Không còn ngôi nhà ấy những cái cây quanh nhà biến mất.
Tôi đi qua ban mai mơ hồ tiếng mở cửa
Và tiếng sủa con chó nhỏ ướt át sương đêm trên cánh đồng phía trước
Tôi đi qua tràn ngập tâm hồn mở ra một đầm nước lộng lẫy bầy thiên nga
Mang gương mặt thiếu phụ đã chết bay lên
Vọng tiếng kêu khe khẽ một đêm ân ái đã lâu trong những tối thu
Ngôi nhà trôi về đâu con đường mòn chìm khuất
Tôi đi qua hoàng hôn tiếng cửa dần dần đóng
Bầy thiên nga thiếp ngủ trên sóng rì rầm
Người thiếu phụ gọi về trong ngày hạ cuối cùng.
Biến mất cánh đồng trong bóng tối bất tận
Những ngôi sao dần dần trong dần dần tinh khiết
Hơi ấm bộ lông chó bên bậc cửa, sủa khe khẽ, khe khẽ sủa trong mơ
Người thiếu phụ vẫn thở trong ngôi nhà vô hình
Và cái thai dần lớn bởi giấc mơ tôi.


NHỮNG CON CÁ ƯỚP
Tôi suy tưởng về đại dương
Những chiếc chum sành nửa bóng tối
Những con cá ướp.
Đã than thở, đã hát ca, đã xoè vây lộng lẫy
Đã hoan hỉ ra đi, dòng trứng phun chảy như nham thạch
Những hải lưu ấm nóng và bất tận.
Giờ bên cạnh những hạt muối chứa đầy ký ức biển
Những con cá bất động
Sự suy tưởng của tôi dội vang những đợt sóng
Chiếc chum sành lắc lư
Những con cá ướp
Phun chảy những dòng trứng
Nở ra những con cá
Trong dòng hải lưu suy tưởng bất tận của tôi.


NHỮNG CÁNH BƯỚM
Đâu đấy, một cánh bướm run rẩy, trong hơi thở tháng Giêng
Một cánh bướm như không có bởi mỏng hơn cả sự mơ hồ
Nhưng đã mở ra, ở đâu đó, một cánh bướm có thật
Không bởi màu sắc rực rỡ mà bởi như hơi nước đang tỏa
Chúng ta đổ ra quảng trường, chen lấn và xô đẩy
Một số ai đó gào thét và nhiều lúc đập phá
Và chúng ta quên đi, đâu đấy, trong những lùm cây bé bỏng
Đang rộn rã mùa sinh nở côn trùng
Đâu đấy ánh sáng không bao giờ tắt trong cả những đêm
Và sự chuyển động mỗi lúc một mãnh liệt trong cái kén bất động
Rồi đột ngột xuất hiện, trong sự chờ đợi của đất đai, của cây cỏ và bầu trời,
một sự sống diệu kỳ
với vẻ đẹp mong manh
Đâu đấy, không chỉ một đâu đấy,
mà tràn ngập bất tận
Từ bóng tối đến ánh sáng,
mở ra những cánh bướm
Và theo luồng hơi thở ấm áp
và rộng lớn của tháng Giêng
Chúng mang vẻ đẹp của đời sống
đi khắp thế gian
Mà không để lại một tiếng động nhỏ


PHÊ BÌNH - TRAO ĐỔI  

Posted by Unknown

Tống xa nọc Tống... hại người!
ĐÔNG LA

Tống Văn Công vốn là TBT Báo Lao động, trong danh sách 72 người ký tên vào Bản Kiến nghị đòi thay đổi Hiến pháp, thay đổi thể chế, Tống Văn Công đứng thứ 6.
Sáng 22-10-2013, Trưởng ban biên tập Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Phan Trung Lý đã trình bày Báo cáo trước kỳ họp Quốc hội, theo đó, đa số ý kiến đại biểu và nhân dân đồng ý giữ tên nước là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam; giữ nội dung điều 4 về vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; quy định rõ nghĩa vụ trung thành của lực lượng vũ trang với Tổ quốc, nhân dân, với Đảng và Nhà nước...
Như vậy xã hội chúng ta vẫn giữ vững nền tảng cũ, cái nền tảng được xây nên bằng chính lịch sử vinh quang cũng như niềm tự hào của đại đa số nhân dân VN. Nhưng ai cũng nhận thấy sự chỉnh đốn cũng là điều cấp thiết. Đó chính là việc cắt bỏ những lạc hậu sai trái, uốn nắn những lệch lạc, bổ sung những thiếu sót. Còn như theo một số người hãnh tiến muốn đập bỏ tất cả để chạy theo những mô hình này nọ sẽ là ảo tưởng nguy hiểm, chẳng khác gì xây lâu đài trên cát. Sự tan vỡ Liên Xô là bài học cụ thể nhất. Nước Nga từng bị khốn đốn. Nhưng vốn là một trung tâm khoa học, công nghệ và văn hóa, là đất nước của các nhà bác học vĩ đại Lômônôsov, Menđêlêev, Capítxa, Lanđao, Cuốcchatov…; là đất nước của những Pushkin, Lev Tônxtôi, Đoxtôievxki…, họ đã nhanh chóng hồi phục, dù còn lâu mới có được vị thế của LX ngày xưa. Còn Việt Nam ta, thật tiếc, nếu đổ vỡ, ngoài lịch sử từng bị nhiều thế lực xâu xé, trình độ mọi mặt còn kém, chắc chắn sẽ đến chỗ thảm họa!
Như vậy, đúng theo tinh thần dân chủ, đa số ý kiến của các đại biểu Quốc hội và nhân dân đã bác bỏ thiểu số ý kiến của nhóm 72 vị “lật pháp”. Nhưng lạ ở chỗ những người luôn nhân danh đấu tranh cho dân chủ lại không chịu hiểu những điều tối thiểu về dân chủ, chỉ là ý một dúm người nhưng họ lại không chịu thừa nhận sự sai trái của mình. Không chỉ trong việc kiến nghị sửa đổi hiến pháp mà còn trong rất nhiều vụ việc, họ đã bày đủ trò, trong đó việc viết và phát tán những quan điểm sai trái trên mạng đã gây ra sự bất ổn không nhỏ.
Cũng như Huệ Chi - GS ngành Hán nôm, Tương Lai - PGS ngành xã hội học, Nguyễn Trung - cựu đại sứ ngành ngoại giao; là một nhà báo nên Tống Văn Công cũng viết khá nhiều. Vì là công chức trong thể chế, biết nhiều chuyện, nên những bài viết của Tống Văn Công rất dễ khiến người ta tin theo. Nhưng có điều nguy hiểm là, có những vấn đề quá lớn, quá cao sâu, để đánh giá cho đúng bản chất và đưa ra được những giải pháp giúp cho xã hội ổn định và phát triển thì xem chừng quá tầm tri thức của ông.
Là một nhà báo, Tống Văn Công nắm được rất nhiều tin tức nên đã viết nhiều thứ, từ quan hệ với Trung Quốc, Chủ nghĩa Mác đến chuyện dân chủ, đa nguyên… Ông ủng hộ quan điểm “có vấn đề” của nhiều người như Trần Xuân Bách, Trần Độ, Bùi Tín, Nguyên Ngọc; ủng hộ trang “lề trái” Bauxite; ủng hộ những người phạm pháp như Cù Huy Hà Vũ…
Trong một bài viết nên tôi không thể phân tích hết được, bài này chỉ bàn về hai ý của Tống Văn Công về quan hệ với Trung Quốc và Chủ nghĩa Mác.
Trên trang Bauxite (26-9-2009) của Nguyễn Huệ Chi, Tống Văn Công với bút danh Thiện Ý, có bài Đổi mới Đảng, tránh nguy cơ sụp đổ, được nhà thơ Hoàng Hưng: “ly làm vinh dđưc tác giThin Ý gi gm vic gii thiu công khai danh tính tht cũng như nhân thân ca anh”. Tâm Việt trên QĐND, trong bài Phía sau lời “góp ý” đã cho là có “Mưu đồ thâm hiểm”. Riêng tôi, sau khi đọc thì thấy Tống Văn Công chắc muốn thể hiện “thiện ý”. Có điều ý của ông đúng hay sai, lợi hay hại cho dân cho nước, để rồi thành “thiện” hay “ác” ý thì cần phải xem kỹ.
Trong bài, Tống Văn Công viết khá đúng về thực trạng yếu kém của xã hội và những vấn đề nơi biên cương Hải đảo, nhưng các giải pháp của ông đưa ra thì theo tôi, không phải là “mưu đồ thâm hiểm” mà thực sự là “mối nguy hiểm”. Ông đã phê phán đường lối ngoại giao của nước ta khi coi Trung Quốc là “Đồng minh”, mà theo ông, cần phải coi Trung Quốc là kẻ thù nguy hiểm: “Chúng ta đã từng gọi một cách chính xác “bọn bành trướng bá quyền Bắc Kinh làkthùtrc tiếp nguy hiểm”.
Trong xu hướng của thời đại: “đối thoại thay đối đầu”, “khép lại quá khứ hướng tới tương lai”, ý của Tống Văn Công coi “TQ là kẻ thù” đúng là đi ngược! Nó cũng trái với lời dạy của tiền nhân trong các cách ứng xử: “bán anh em xa mua láng giềng gần”; “Hận thù nên cởi chứ không nên buộc”.
Chúng ta cũng cần hiểu tham vọng bành trướng bá quyền không chỉ là “đặc sản” của riêng người Tàu mà là bản tính chung của loài người. Kẻ có sức mạnh dễ sinh tham lam. Nhìn vào lịch sử thì TQ còn thua xa người Anh khi mặt trời từng “không lặn trên Đế quốc Anh”, rồi dân Pháp ở đâu cũng đến tận xứ Đông Dương để “khai hóa” dân “An-nam-mít” chúng ta; rồi dấu chân người Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha từng dẫm nát cả Nam Mỹ và người Đức cũng gây ra cả một Đại chiến Thế giới!
Thế rồi, dù Nhật từng bị bom nguyên tử của Mỹ hủy diệt, Đức từng bị quân Liên Xô và Đồng Minh đánh tận sào huyệt, nhưng sau chiến tranh, Nhật, Đức vẫn trở thành đồng minh của Mỹ. Ngay nước Mỹ, sau thất bại 1975, cũng đã bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Với xu thế như vậy, tư tưởng “thêm thù bớt bạn” của Thiện Ý Tống Văn Công bất kể ta là ai, lực ta như thế nào, tương lai dẫn ta đến đâu, thực sự là nguy hiểm!
Trong thời gian qua, phía TQ quả có gây ra nhiều chuyện nơi Biên giới Hải đảo của ta, từ chuyện xâm hại tính mạng và tài sản của ngư dân, đặc biệt là tham vọng qua tuyên bố về “đường lưỡi bò” liếm hết Biển Đông…, ta cần phải dựa vào luật pháp cũng như dư luận quốc tế, tăng cường ngoại giao đa phương để có đối sách thích hợp, kể cả việc nâng cao sức mạnh chiến đấu của quân đội, tăng cường phòng thủ. Nhưng kích động thù hận, phát động chiến tranh là điều không nên. Trái lại, trước những hành động ngang ngược và tàn bạo của lính TQ mà ta cứ làm thinh để họ được đà lấn tới cũng là điều không nên. Chúng ta nên mừng khi các nhà lãnh đạo nước ta vừa thăm TQ “thắt chặt quan hệ hai nước”, đồng thời người Phát ngôn Bộ Ngoại giao ta cũng vẫn gởi công hàm phản đối những hành động sai trái của họ. Việt Nam ta nhỏ yếu và kém phát triển, chúng ta không thể xếp đặt mọi thứ theo ý mình, kể cả những cường quốc cũng vậy. Vì vậy cần phải hiểu đấu tranh ngoại giao là khó khăn, cần phải kiên trì khôn khéo để đạt hiệu quả tốt nhất có thể, chứ không thể lập tức đòi mọi thứ như ý. Tiếc là vừa rồi không ít kẻ lợi dụng những rắc rối với Trung Quốc để quấy rối, phát động biểu tình, gây mất ổn định xã hội. Là một nhà báo, lẽ ra phải hướng dẫn dư luận, nhưng Tống Văn Công lại viết bài ủng hộ. Nguyên Ngọc, Huệ Chi, Chu Hảo, Quang A, Xuân Nguyên… còn trực tiếp xuống đường. Là người hiểu biết, ai cũng thấy biểu tình sẽ không giải quyết được gì, nhưng họ vẫn hành động như vậy, chứng tỏ họ chỉ muốn chống lại đường lối ngoại giao của Nhà nước ta với TQ mà thôi!
Tiếp theo, Tống Văn Công đã đề nghị một điều động trời, đó là việc nước ta nên: “Bỏ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa” “Từ bỏ ý thức hệ cộng sản”!
Trong bài Liều thuốc đắng cùng ngọn roi Đông La trên Talawas một thời, với bút danh Trần Thiên Ý, Tống Văn Công lại viết khá đúng về tôi: “Đông La không phải là một chiến sĩ của Đảng, một đại diện của thế lực văn hóa chính trị bảo thủ… Có lẽ Đông La chỉ giản dị là một nhà phê bình thấy lý luận cùn chẳng tha, thấy phách lối thì ghét, thấy ai cũng im lặng theo đuôi thì tức, thấy tai hại thì chửi vậy thôi”. Ông cũng rất đồng ý với tôi khi phê phán sự lầm lẫn về tri thức của các vị Hoàng Minh Chính, Hà Sĩ Phu… trong bài Các Mác - một tình yêu bao la, cho họ là: “Vẫn là dùng ý chí thay cho lập luận, trừu tượng hóa để giấu lỗ hổng tri thức, lấy mỹ từ thay cho tư duy logic”. Có điều, ông lại tự mâu thuẫn, khi nhận thức của ông về Chủ nghĩa Mác thực chất cũng không khác gì của những người mà ông đã phê phán đó:
“Chủ nghĩa Mácxít - Lêninnít cùng với hàng loạt chủ nghĩa biến tướng hay lợi dụng chủ nghĩa Mác và chủ nghĩa xã hội khác đã bị nhân loại dứt khoát vứt bỏ”.
Trong một bài khác: Nhân đọc Báo cáo chính trị của Ðảng, nói đôi điều cùng Ðông La (trên BBC), ông cũng viết:
“Trong khi các đảng cộng sản Ðông Âu có đủ điều kiện để khẳng định niềm tin của mình bất chấp sai lầm của Marx và chủ nghĩa duy vật lịch sử, thì hình như những người cộng sản Việt Nam - và có lẽ không ít trí thức Việt Nam ngày nay - vì một lý do nào đó, vẫn chưa được biết đến những sai lầm này. Họ vẫn tin tưởng tuyệt đối vào sứ mệnh lịch sử lãnh đạo xã hội để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên cơ sở tin tưởng tuyệt đối vào chủ nghĩa Marx, một niềm tin xây dựng trên sự ngộ nhận”.
Nói theo ngôn ngữ triết học, nếu như căn cứ ở cấp độ hiện tượng thì quá dễ dàng khi lấy những ví dụ chứng tỏ Chủ nghĩa Mác đã sai đúng như ý Tống Văn Công và không ít người, trong có cả những người từng có chức vụ và chức danh rất cao như Trần Độ, Nguyễn Hộ, Hoàng Minh Chính, Bùi Tín, Nguyễn Huệ Chi...
Nhưng nhìn sâu vào bản chất và với cái nhìn biện chứng ta sẽ thấy, nền tảng cơ bản của học thuyết Mác cho sự bất công trong hưởng thụ thành quả lao động và sự nô dịch hóa người lao động chính là những nguyên nhân gây ra mâu thuẫn dẫn đến cách mạng xã hội, sẽ là mãi mãi đúng. Nếu cứ mãi bất công cực đoan, giai cấp bóc lột tất sẽ sản sinh ra những người đào huyệt chôn chính nó. Thế nhưng lịch sử thế giới khoảng 100 năm qua đã diễn ra lại không khớp với từng con chữ của Mác. Nhiều người chống Mác vẫn thường hả hê đặt câu hỏi một cách diễu cợt, nếu Mác đúng tại sao CNTB giãy mãi mà chưa chết? Còn chính Liên Xô, thành trì của XHCN thì lại chết nhăn răng?
Ta hãy điểm qua vài nét lịch sử.
Đầu tiên, dưới sự lãnh đạo sáng tạo của Lê-nin, cho cách mạng XHCN có thể trước hết giành được thắng lợi ở một nước hoặc một số nước, lần đầu tiên trong lịch sử, một nhà nước vô sản đã ra đời. Sau đó Lê-nin áp dụng “Chính sách kinh tế mới” để có thể thành công trong việc “xây dựng chủ nghĩa xã hội trong một nước tiểu nông”. Đến thời Stalin, ông từng nói: “Chúng ta lạc hậu hơn các nước tiên tiến 50 năm đến 100 năm, chúng ta phải chạy hết khoảng cách này trong 10 năm, hoặc chúng ta làm được điều này, hoặc chúng ta bị người ta đánh ngã”. Stalin đã làm được, ông đã lãnh đạo thành công việc làm cho chế độ XHCN cơ bản được xác lập ở Liên Xô, và còn hơn thế, đã có sức mạnh chiến thắng bọn phát-xít. Sau đó, LX phát triển mạnh công nghiệp hóa, chế tạo được cả bom nguyên tử, bom hạt nhân, có lúc đã vượt Mỹ về công nghệ vũ trụ, trở thành siêu cường, đối trọng được với Mỹ!
Như vậy, ta thấy nếu chủ nghĩa Mác - Lê-nin được áp dụng đúng sẽ đạt được kết quả kỳ diệu đến thế nào. Tiếc là LX đã sai lầm. Từ việc xóa bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ dẫn đến việc sùng bái cá nhân, dẫn đến sai lầm trong công tác tổ chức, cán bộ, đã sinh ra tầng lớp đặc quyền, đặc lợi, biến nhà nước Xô-viết thành nhà nước phong kiến trá hình. Cuối cùng là sự phản bội của Goocbachov, xóa bỏ Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, loại bỏ vị trí hạt nhân của Đảng Cộng sản LX trong thể chế chính trị, chuyển quyền lực sang Xô-viết, thực hiện đa nguyên, đa đảng. Kusov, Phó Chủ tịch Đảng Cộng sản Nga từng cho biết: “Sửa đổi Hiến pháp chỉ vẻn vẹn một năm, đã có khoảng 20 chính đảng cấp Liên bang, có hơn 500 chính đảng cấp nước cộng hòa. Hầu hết trong đó trở thành lực lượng chính trị cuối cùng thúc đẩy Đảng Cộng sản Liên Xô bị hạ bệ và giải tán”.
Theo Báo Nhandan.online, dưới thời Goocbachov, tầng lớp đặc quyền khi Đảng CS Liên Xô và đất nước đang đứng trước nguy cơ tồn vong, chúng đã không ngần ngại lột bỏ mặt nạ, công khai thúc đẩy vứt bỏ CNXH đi theo con đường của CNTB để hợp thức hóa tài sản hiện có! Nhà kinh tế học nổi tiếng người Mỹ David Code có một câu nói nổi tiếng: Đảng CS Liên Xô là chính đảng duy nhất làm giàu trong tang lễ của chính mình.
Theo TT Nga Pu-tin, sự tan vỡ LX đã gây ra một “đại thảm họa địa chính trị”! Xã hội Nga sau đó đã rơi vào hỗn loạn mà chính Yeltsin từng thừa nhận: “Nước Nga hiện nay đã vượt Italia, trở thành vương quốc băng đảng mafia lớn nhất thế giới”! Còn cựu Tổng thống Ukraine Kravchuk, một trong ba nhân vật tham gia ký kết hiệp định giải thể Liên Xô sau này cũng nói: “Nếu như năm 1991, tôi biết được cục diện đất nước sẽ phát triển đến như cục diện như hôm nay thì khi đó tôi đã nhất quyết chặt đứt cánh tay mình chứ không ký vào Hiệp định”!
Chúng ta nên nhớ ngày 17-3-1991, Liên Xô đã tiến hành trưng cầu ý kiến nhân dân toàn Liên bang. Trong đó, số phiếu bảo lưu Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xô Viết chiếm 76,4%. Như vậy, sự tan rã LX không phải là do “ý dân” không muốn sống dưới chế độ XHCN nữa, không muốn đi theo Chủ nghĩa Mác - Lê-nin nữa mà chính là do sự phản bội của Khơrutsov và cuối cùng là Goócbachov và Enxin!
Còn việc những người cho CNTB sao “giãy mãi mà chưa chết”? Theo tôi, vì họ nhìn xã hội theo chủ nghĩa duy danh nên đã không thấy thực tế cái CNTB theo định nghĩa của Mác là “bóc lột” và “nô dịch hóa người lao động” đã chết nhăn răng từ lâu rồi còn gì!
Thực tế CNTB ác hơn và tham lam hơn Mác nghĩ, đã trở thành Chủ nghĩa Đế quốc, mà theo định nghĩa của Lê-nin, là “giai đoạn tột cùng của Chủ nghĩa Tư bản”, nó không chỉ bóc lột công nhân bản xứ mà còn đi xâm lược để bóc lột được nhiều hơn. Chính sự chiến thắng ngoại xâm trong hai cuộc đại chiến đã làm thay đổi tính chất của Chủ nghĩa Tư bản. Sau thế chiến, trong cuộc “chiến tranh lạnh”, để “thích nghi để tồn tại” nhiều tính chất của cái chủ nghĩa tư bản xấu xa theo định nghĩa của Mác đã chết. Theo Wikipedia: “Lý tưởng của Chủ nghĩa Cộng sản là đối trọng để chủ nghĩa tư bản trở nên tốt đẹp hơn để được xã hội loài người chấp nhận. Từ chủ nghĩa tư bản với sự tự do bóc lột - "Người với người là chó sói" (Lenin) - và đầy rẫy bất công tạo ra mầm mống của bạo động và cách mạng, thế giới cũ đã tìm các cách thích nghi và triển khai một xã hội công dân mà trong đó mọi thành phần xã hội đều có thể phát triển, các mâu thuẫn xã hội không thể đã hết nhưng đã có những cơ chế thỏa hiệp để giải quyết trên cơ sở hợp lý cho các giai tầng xã hội. Đây là một đóng góp gián tiếp rất lớn của chủ nghĩa xã hội”.
Dù vậy, kinh tế Tư bản vẫn chứa đựng những bất công lớn, nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng và suy thoái trong những ngày hôm nay. GS Triết học Mỹ Phil Gasper đã viết: “Năm 1998, 10% dân số giàu nhất Mỹ chiếm hữu hơn 85% của cải”. M. Yunus, Nobel Hòa bình, cho: “Chủ nghĩa tư bản đã thành sòng bạc”. Nước Mỹ, một đất nước có những cá nhân giàu bằng cả những quốc gia nhưng hiện nay: “Cục điều tra dân số Mỹ hôm 20- 10 cho biết, họ ước tính có 47,4 triệu người Mỹ hiện sống trong bần cùng” (VietNam.net). Bản thân Bill Gate, người giầu nhất nhì thế giới, đã nói: “Phúc lợi không giành cho tất cả mọi người. Có 1 tỉ người trên hành tinh của chúng ta sống ở mức dưới 1 đô la mỗi ngày”. Và ông đã đưa ra một hình mẫu mới mà ông gọi là “CNTB sáng tạo” có những mục tiêu giống với CNXH. Và gần đây, phong trào biểu tình “Chiếm Phố Wall” của những người “đại diện cho 99%” dân lao động chống lại 1% giới tư bản tài chính và các chính trị gia, chống lại cái cơ chế xã hội “của 1%, do 1% và vì 1%” của Mỹ và thế giới tư bản nói chung. Nhà làm phim Michael Moore đã nói: “Đó là hệ thống tàn ác... hệ thống được dựng lên để 1% những người giàu nhất nhận 40% chiếc bánh”.
Vũ Quang Việt cũng viết về khủng hoảng ở Mỹ: “Cuộc khủng hoảng tài chính ngày nay là kết quả của một cuộc chạy đua làm tiền một cách cực kỳ tham lam của chế độ tư bản coi mọi định chế kiểm soát là kềm kẹp kiểu xã hội chủ nghĩa” (Diendan.org).
Như vậy,Tống Văn Công, với tư duy báo chí đã phản ánh đúng được hiện tượng nhưng lại không có cái nhìn sâu vào bản chất của một nhà khoa học và cách nhìn biện chứng của một nhà tư tưởng, nên trước những vấn đề rất lớn và phức tạp đã đưa ra những giải pháp thật thô thiển và sai lầm như sau:
“Tôi cho rằng… bỏ hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa sẽ đem lại rất nhiều điều thần kỳ cho Đảng và cho Đất nước”!
Tống Văn Công cũng là một “fan” của Trần Độ. Cũng như một số người từng cho Chủ nghĩa Mác là mặt trời chân lý sáng soi, khi thất sủng lại cho là “cái bánh vẽ khổng lồ”! Đó chỉ là cái nhìn ấu trĩ. Bởi đã coi Chủ nghĩa Mác như một phép tiên, tưởng cứ tuyên bố theo Chủ nghĩa Mác là xã hội sẽ tiến vù vù. Cần phải hiểu Chủ nghĩa Mác như một khoa học về sự phát triển. Cũng như khoa học công nghệ, người ta cần phải hiểu đúng, áp dụng đúng thì mới có kết quả. Chủ nghĩa Mác đã dạy “lượng đổi chất đổi”, vậy cần phải làm cho lượng tiến bộ của xã hội ta tăng dần lên, chỉ có vậy thì đến một lúc nào đó xã hội ta sẽ thay đổi về chất. Nếu nhìn bằng con mắt “cận thị” tri thức sẽ thấy Chủ nghĩa Mác đúng là “cái bánh vẽ”. Nhưng nếu hiểu khoa học sẽ thấy có những sự biến đổi còn hơn cả phép thần thông nữa như từ Big Bang, một điểm siêu kỳ dị về tỷ trọng và nhiệt độ, còn có thể hình thành nên cả vũ trụ, cả muôn loài, trong đó có loài người chúng ta! Cũng như nếu không hiểu sinh học và nguồn gốc loài người, sẽ không hiểu tại sao thủy tổ loài người là da đen ở châu Phi, nhưng sao lại thành bao chủng tộc khác nhau như ngày nay? Cũng như một người sống ở thời ăn lông ở lỗ sao có thể hình dung chuyện có ngày con người lại có thể bay lên tận sao Hỏa, thám hiểm cả Mặt Trời? Vì vậy cái gì hợp quy luật cũng sẽ xảy ra, và sự tiên tri của Mác hoàn toàn không phải là một điều không tưởng: “Thay cho xã hội tư bản cũ, với giai cấp và đối kháng giai cấp của nó, sẽ xuất hiện một liên hiệp, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người” (Tuyên ngôn ĐCS).

TP.HCM, 24-10-2013 

Gặp lại họa sĩ Trần Văn Thảo  

Posted by Unknown


QUỲNH LÝ
Tại Galerie Quỳnh, họa sĩ Trần Văn Thảo tổ chức triển lãm cá nhân lần thứ ba của mình với tựa đề là Bóng chìm, trưng bày các tác phẩm mới của anh lấy cảm hứng từ niềm đam mê với nước, ánh sáng, bóng tối và không gian riêng rất trừu tượng của mình.
Tác giả khẳng định: “Khi nhắm mắt lại, ta sẽ thấy những bóng đen của vô cùng, của sự mất phương hướng, của sâu thẳm tâm can... chứ không chỉ là nghĩa phàm tục của những miền tối. Và khi mở mắt ra, ta sẽ nhìn thấy rất nhiều thứ: mặt trời và gió, không khí, sự vật, con người... Thời khắc “tỉnh ngộ” như vậy có thể trở lại tại bất cứ thời gian, trong bất cứ tâm trạng nào, và có thể nắm bắt được bất cứ chủ thể, đồng thời gợi lại bất cứ hoàn cảnh nào”.
Trần Văn Thảo say mê với những hình ảnh, những ấn tượng và những lay động trong cuộc sống thường nhật. Tác phẩm của anh mang đậm cảm biến về nơi chốn - không phải thiên về khía cạnh địa lý mà là trải nghiệm một sự giao thoa giữa cái quen thuộc và cái xa lạ. Những nét vẽ và dòng chữ nguệch ngoạc của Thảo mang hình thù sôi nổi, sống động; ấy vậy mà, bố cục tranh của anh lại truyền đạt nên khoảng không tĩnh lặng và gợi cảm. Việc tác giả có khả năng tạo ra sự đối lập như vậy chứng tỏ tài sáng tạo và độ hoàn thiện trong kỹ năng của anh. Trong các trường hợp khác, nhất là các tác phẩm sau này, những hình dáng uyển chuyển được nhào nặn tài tình bằng nét cọ tự chủ hơn.
Sinh năm 1961 ở Sài Gòn, Trần Văn Thảo tốt nghiệp Đại học Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh, là một họa sĩ nổi lên từ thập niên 90, có hướng đi riêng, không lẫn lộn vào đồng nghiệp, anh tham gia nhiều triển lãm trong và ngoài nước.
Triển lãm Bóng chìm khai mạc vào ngày 25-10-2013 và bế mạc vào ngày 22-11-2013 tại trung tâm của Galerie Quỳnh, lầu 2, số 151/3 Đồng Khởi, Q.1, TP.HCM.

CÂU LẠC BỘ TRANH VIỆT  

Posted by Unknown

Triển lãm Mỹ thuật mùa thu
ĐẠM THY
Được sự đồng ý của Hội Mỹ thuật TP.HCM, Câu lạc bộ Tranh Việt trực thuộc Cung Văn hóa Lao Động TP.HCM đã có buổi ra mắt tranh của 18 thành viên câu lạc bộ tại Hội Mỹ thuật TP.HCM, gồm: Quang Anh, Lê Hùng Cường, Hà Anh Dũng, Cao Anh Đào, Nguyễn Anh Đào, Nguyễn Thị Tuyết Giang, Phan Thị Ngọc Hà, Kanno Hideko, Nguyễn Hoàng, Võ Thị Thanh Huyền, Hồng Liên, Xuân Mai, Nguyễn Thị Thanh Tâm, Ngoan Trịnh, Nguyễn Ngọc Trinh, Nguyễn Thị Anh Tú, Nguyễn Đăng Hải Yến.
Với 48 tác phẩm gồm các chất liệu sơn dầu, sơn mài, vẽ về phong cảnh, sinh hoạt cuộc sống các vùng miền quê hương đất nước, những thay đổi của thành phố và tình yêu thương cuộc sống gia đình, các họa sĩ không chuyên này lại tạo được một phòng tranh khá đẹp vì đề tài đa dạng và bút pháp thuyết phục.
Họa sĩ Lê Quang Luân - Chủ nhiệm Câu lạc bộ là hội viên của Hội Mỹ thuật TP.HCM, Hội Mỹ thuật Việt Nam, 16 năm nay anh là giảng viên của Trung tâm Hướng dẫn Mỹ thuật TP.HCM thuộc Hội Mỹ thuật TP.HCM phát biểu:

- Triển lãm này là một hoạt động đánh dấu bước trưởng thành của các thành viên, đồng thời kỷ niệm 7 năm thành lập năm CLB Tranh Việt. Họ là những người say mê vẽ, đã có những thay đổi tự thân, tìm hướng đi để định hình phong cách sáng tác của mình và có thành viên đã làm được điều đó, đã gợi cho người xem những cảm xúc biểu đạt trong tác phẩm. Có thể tranh chỉ là cái cớ để họ có điều kiện gởi gắm tâm sự, những lời nhắn nhủ cũng như thông điệp bằng màu sắc đến đối tượng của mình, hoặc tranh cũng chỉ là công cụ để họ giải tỏa những ức chế nào đó trong tâm hồn, trong đó có nhu cầu vẽ, và chính vẽ đã đưa tất cả mọi thành viên trong CLB Tranh Việt lại gần nhau hơn vì cùng chung một mục đích, một điểm đến. Trước đây CLB Tranh Việt thường xuyên tổ chức triển lãm tại Cung Văn hóa Lao Động TP.HCM, các buổi sinh hoạt thường kỳ nhằm tạo phổ cập kiến thức cơ bản và nâng cao về mỹ thuật - hội họa cho các thành viên, tạo điều kiện cho những người yêu thích bộ môn mỹ thuật hội họa có nơi tập trung học tập, giao lưu, rèn luyện kỹ năng, nâng cao tay nghề về lãnh vực này, cũng như để họ có cơ hội triển lãm những tác phẩm của mình (tại Cung Văn hóa Lao Động và một số nơi mà CLB Tranh Việt giao lưu).

GIAI THOẠI DANH NHÂN  

Posted by Unknown

LÊ SƠN (sưu tầm)
Cam và hoa
Khi nhà văn lão thành Somerset Maugham bị cúm ở tuổi 88, các bác sĩ cấm ông đứng dậy và tiếp khách.
Một nữ độc giả hâm mộ nhà văn gọi điện cho ông và hỏi rằng liệu có thể gửi đến biếu ông cam và hoa được không
Nhà văn trả lời:
- Cam thì bà có thể gửi bao nhiêu cũng được. Còn hoa thì gửi khí sớm đấy.


Quyền lựa chọn
Một nhà văn viết văn chưa sạch nước cản nhưng lại rất tự phụ đã thách đấu với Marcel Proust.
Ông ta đưa cho Proust tấm danh thiếp và ngạo mạn nói:
- Tôi cho phép ngài chọn loại vũ khí.

- Rất hay! - Proust thốt lên - Tôi chọn phép chính tả. Ngài đã bị bắn chết! 

Gốm Việt mỹ thuật  

Posted by Unknown

VĂN PHONG
18 giờ ngày 22-10-2013, Câu lạc bộ Gốm Mỹ thuật Sài Gòn đã khai mạc phòng triển lãm mang tên Gốm Mỹ thuật 2013 tại Hội Mỹ thuật TP.HCM (số 228A, Pasteur, Q.3, TP.HCM). Trong lần triển lãm này, câu lạc bộ đã giới thiệu 76 tác phẩm của 20 tác giả đang hoạt động ở các lãnh vực: hội họa, điêu khắc, đồ họa, kiến trúc cùng tham gia sáng tác gốm mỹ thuật, như: Trịnh Thanh Tùng, Lê Triều Điển, Hồng Lĩnh, Nguyễn Thị Kim Chi, Phụng Quốc Hàm, Nguyễn Nam, Đoàn Xuân Hùng, Lâm Thanh, Bạch Văn Nhân, Nguyễn Thành Công, Trần Minh Thành Được, Nguyễn Quang Thu, Lê Thị Thanh Tâm, Nguyễn Mậu Tân Thư, Đặng Đình Chưởng, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Văn Thuấn, Nguyễn Minh Trung, Hà Huyền Trân.
Đây là triển lãm thuần gốm duy nhất trong năm được tổ chức tại Hội Mỹ thuật TP.HCM, kéo dài đến hết ngày 30-10-2013.
Đề tài sáng tác của các họa sĩ, nhà điêu khắc, kiến trúc sư là thiên nhiên, lao động, chân dung các văn nhân, anh hùng. Chất liệu văn hóa Chăm, Tây Nguyên cũng là cảm hứng sáng tạo cho những tác phẩm gốm thô ráp nhưng cuốn hút.
Nhà điêu khắc Đoàn Xuân Hùng, Chủ nhiệm Câu lạc bộ Gốm cho biết, phòng triển lãm gốm mỹ thuật có thể chia ra hai thể loại chính: Gốm độc bản Gốm sắp đặt. Trong gốm độc bản có hai dạng: Gốm như là một tác phẩm điêu khắc và Gốm như dạng sản phẩm trang trí, đồ dân dụng như: bình và dĩa trang trí (gắn với tư duy bình thường về giá trị bình dân, dân dụng).
Trong 76 tác phẩm gốm có mặt tại triển lãm có thể chia làm hai dạng: Gốm đất nung gốm có phủ men.

Nhiều ý kiến nhận xét, đây là một phòng triển lãm đẹp với sự đầu tư sáng tác phong phú, đa dạng... 20 họa sĩ đã đặt niềm say mê vào cuộc chơi của đất, nước, lửa... để sáng tạo nên những tác phẩm gốm thuần chất gốm Việt.

Những con số thú vị về giải Nobel Văn học  

Posted by Unknown

THÂN NGUYỄN LUẬN (st)
(6, thôn 3, Hòa Thành, Krông Bông, Đăk Lăk)  
 Chiều ngày 10-10-2013, giải Nobel Văn học năm 2013 được công bố. Nữ văn sĩ người Canada Alice Munro đã đoạt giải năm nay. Nobel Văn học đã có 113 năm lịch sử, và cũng có 110 người từng vinh dự đoạt giải thưởng cao quý này, trong đó có 107 người nhận giải, 3 người từ chối nhận giải. Trong chiều dài lịch sử của mình, có 4 năm không trao giải là từ năm 1940 đến 1943 vì Chiến tranh thế giới thứ II. Có 4 lần giải Nobel Văn học được trao cho 2 người khác nhau trong suốt hơn 100 lần trao giải. Bên cạnh đó còn có những con số thú vị như sau:
1. Nhà văn lớn tuổi nhất nhận giải Nobel Văn học: Doris Lessing, nữ nhà văn người Anh này đã 88 tuổi khi được công bố là người đoạt giải Nobel Văn học năm 2007.
2. Tác giả trẻ nhất đoạt giải: Nhà văn Anh Rudyard Kipling, ông 42 tuổi khi đoạt giải năm 1907.
3. Người nhận giải Nobel Văn học sống thọ nhất cho đến nay: Nhà văn Anh Bertrand Russell, đoạt giải năm 1950, ông sinh ngày 18-5-1872, mất ngày 2-2-1970, thọ 97 tuổi.
4. Người chết trẻ nhất trong số những người đoạt giải Nobel Văn học: Nhà văn Pháp Albert Camus, đoạt giải năm 1957, ông mất trong một tai nạn ô tô năm 1960, chỉ ba năm sau khi được giải Nobel. Năm ấy, ông mới 46 tuổi.
5. Số nhà văn nữ đoạt giải 13 người, gồm:
1. Nữ nhà văn người Thụy Điển Selma Lagerlöf, đoạt giải năm 1909.
2. Nữ nhà văn người Ý Grazia Deledda, đoạt giải năm 1926.
3. Nữ nhà văn người Na Uy Sigrid Undset, đoạt giải năm 1928.
4. Nữ nhà văn người Mỹ Pearl S. Buck, đoạt giải năm 1938.
5. Nữ nhà văn người Chi Lê Gabriela Mistral, đoạt giải năm 1945.
6. Nữ nhà văn người Đức Nelly Sachs, đoạt giải năm 1966.
7. Nữ nhà văn người Nam Phi Nadine Gordimer, đoạt giải năm 1991.
8. Nữ nhà văn người Mỹ Toni Morrison, đoạt giải năm 1993.
9. Nữ nhà văn người Ba Lan Wisława Szymborska, đoạt giải năm 1996.
10. Nữ nhà văn người Áo Elfriede Jelinek, đoạt giải năm 2004.
11. Nữ nhà văn người Anh Doris Lessing, đoạt giải năm 2007.
12. Nữ nhà văn người Đức Herta Muller, đoạt giải năm 2009.
13. Nữ nhà văn người Canada Alice Munro, người vừa đoạt giải năm 2013 là người phụ nữ thứ 13 có vinh dự nhận giải.
6. Quốc gia có nhiều giải Nobel Văn học nhất: Pháp 14 người - Anh: 11 người - Mỹ: 11 người
7. Ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất: Tiếng Anh: 27 người - Tiếng Pháp: 14 người - Tiếng Đức: 13 người.
8. Tổng số người đã đoạt giải: Đã có 110 người đoạt giải. Trong đó có 13 người là nữ, 97 người là nam.
9. Người đầu tiên đoạt giải: Nhà văn Pháp Sully Prudhomme, đoạt giải năm 1901.
10. Có 3 nhà văn đoạt giải nhưng không nhận giải: Nhà văn Thụy Điển Erich Karlfeldt, năm 1931. Nhà văn Liên Xô Boris Pasternak, năm 1958. Nhà văn Pháp Jean Paul Sartre, năm 1964.
11. Người châu Á đầu tiên đoạt giải Nobel văn học: Nhà thơ Ấn Độ Rabindranath Tagore, đoạt giải năm 1913. Tác phẩm nổi tiếng của ông là tập “Thơ dâng”.
12. Quốc gia châu Á có nhiều giải nhất: Nhật Bản, có 2 người: Kawabata Yasunari đoạt giải năm 1968 - Oe Kenzaburo đoạt giải năm 1994. Trung Quốc cũng có 2 người đoạt giải là nhà văn Cao Hành Kiện, đoạt giải năm 2000, lúc đó ông đã mang quốc tịch Pháp nên được tính là công dân Pháp thứ 13 đoạt giải. Một người nữa là nhà văn Mạc Ngôn đoạt giải năm 2012.
13. Nhà văn đoạt giải theo châu lục: Đã có 110 người từng được công bố đoạt giải Nobel Văn học từ năm 1901 đến 2013. Cụ thể như sau: Châu Âu: 82 người, chiếm 75%. Châu Mỹ: 17 người, chiếm 15%. Châu Á: 5 người, bao gồm cả nhà văn Shamuel Yosef Agnon (Israel). Châu Phi: 4 người. Châu Úc: 1 người. Không có quốc tịch: 1 người, nhà văn gốc Nga Ivan Bunin, sống tại Paris (Pháp).

Powered by Blogger.

Archives